Lần đầu mở một cuốn gia phả cũ, nhiều người gặp những từ như thủy tổ, chi, phái, tên húy, thụy hiệu, thừa tự mà không chắc nghĩa là gì. Phần lớn là từ Hán Việt, quen với ông bà ta nhưng xa lạ với người trẻ.
Bài viết này giải thích ngắn gọn các thuật ngữ ấy, xếp theo nhóm cho dễ tra. Lưu ý rằng mỗi dòng họ có thể dùng một số từ hơi khác nhau; khi đọc gia phả của dòng họ nhà mình, hãy xem phần quy ước ở đầu sổ hoặc hỏi các bậc cao niên.
Tổ tiên và các đời
Thủy tổ
Thủy tổ là vị tổ đầu tiên của một dòng họ, hoặc của một nhánh họ, mà con cháu còn biết tên và ghi vào gia phả, thường là người đầu tiên đến lập nghiệp ở một vùng đất. Một họ lớn có nhánh ở nhiều nơi thì mỗi nơi có thể tôn một vị thủy tổ riêng.
Tiên tổ
Tiên tổ là tổ tiên các đời trước nói chung. Trong một số gia phả, tiên tổ còn dùng để chỉ những vị ở trên đời thủy tổ mà nay chỉ biết tên hoặc không rõ thông tin.
Cao tổ, tằng tổ, tổ, khảo, tỷ
Đây là cách gọi Hán Việt cho các đời trên, hay gặp trên bài vị và trong văn khấn:
| Hán Việt | Cách gọi thường ngày |
|---|---|
| Cao tổ | kỵ (bốn đời trên mình) |
| Tằng tổ | cụ (ba đời trên mình) |
| Tổ | ông bà (hai đời trên mình) |
| Khảo, tỷ | cha đã mất, mẹ đã mất |
Ví dụ, "hiển khảo" là cách con cháu ghi kính cha đã khuất, "hiển tỷ" là mẹ đã khuất.
Đời (thế hệ, thế thứ)
Đời cho biết một người cách thủy tổ bao nhiêu thế hệ. Phần lớn gia phả tính thủy tổ là đời thứ nhất, con của thủy tổ là đời thứ hai, cứ thế tiếp xuống. Người cùng một đời thì cùng vai, dù tuổi có thể chênh nhau nhiều.
Chi, phái, ngành
Chi
Chi là một nhánh lớn trong họ, thường bắt nguồn từ một người con trai của thủy tổ hoặc của một vị tổ đời trên. Chi của người con trưởng gọi là chi trưởng (chi cả), các chi sau là chi thứ, thường gọi theo thứ tự: chi hai, chi ba…
Phái
Phái cũng là một nhánh của họ. Nhiều họ dùng phái để chỉ nhánh lớn hơn chi (họ chia thành phái, phái chia thành chi); có họ dùng ngược lại, có họ dùng hai từ gần như cùng nghĩa. Nói "chi phái" là nói chung về các nhánh trong họ.
Ngành
Ngành thường là nhánh nhỏ hơn trong một chi, ví dụ ngành trưởng, ngành thứ. Cách dùng cũng tuỳ từng họ.
Người đứng đầu và thứ bậc
Trưởng tộc (trưởng họ, tộc trưởng)
Trưởng tộc là người đứng đầu dòng họ về việc thờ cúng tổ tiên. Ở nhiều họ, theo truyền thống, đây là người con trưởng của dòng trưởng nối đời từ thủy tổ. Ngày nay nhiều họ còn có ban liên lạc hoặc hội đồng gia tộc được bầu ra để lo các việc chung như giỗ tổ, quỹ họ, khuyến học.
Trưởng chi
Trưởng chi là người đứng đầu một chi, lo việc thờ cúng và liên lạc trong chi, thường cũng theo dòng con trưởng của chi đó.
Con trưởng, con thứ, đích tôn
Con trưởng là người con trai đầu, theo truyền thống gánh vác việc thờ cúng cha mẹ; các con sau là con thứ. Cháu đích tôn là con trai trưởng của con trai trưởng, người nối dòng trưởng.
Tên gọi
Tên húy
Tên húy là tên thật, tên do cha mẹ đặt lúc sinh ra. Chữ "húy" có nghĩa là kiêng: xưa con cháu kiêng không gọi, không viết thẳng tên của ông bà, cha mẹ để tỏ lòng kính trọng. Ngày nay ít nhà còn kiêng ngặt, nhưng gia phả vẫn ghi tên húy để lưu lại.
Tên tự
Tên tự là tên chữ đặt thêm khi trưởng thành, thường có nghĩa liên quan đến tên húy. Xưa tên tự phổ biến ở nam giới trong giới có học. Ví dụ, đại thi hào Nguyễn Du có tên tự là Tố Như.
Tên hiệu
Tên hiệu là tên do người đó tự đặt hoặc được người khác tặng, thường nói lên chí hướng, sở thích hay quê quán. Nguyễn Du có hiệu là Thanh Hiên.
Thụy hiệu
Thụy hiệu (tên thụy) là tên đặt sau khi người đó qua đời, dùng khi thờ cúng, thường ghi trên bài vị, mộ chí. Xưa vua chúa, quan lại có thụy hiệu do triều đình ban; trong dân gian, tên thụy thường do con cháu hoặc người hiểu lễ trong họ đặt, mang ý tốt đẹp về đức tính người đã khuất.
Con nuôi và thừa tự
Con nuôi
Con nuôi là người được nhận nuôi như con trong nhà. Gia phả nên ghi rõ là con nuôi, và nếu biết thì ghi cả cha mẹ đẻ, để đời sau hiểu đúng quan hệ.
Thừa tự
Thừa tự là nhận việc nối dõi, thờ cúng cho một người hoặc một nhánh không có con trai. Người được chọn, thường là cháu trong họ, gọi là con thừa tự. Trong gia phả, người con thừa tự thường được ghi ở nhánh mình thừa tự, kèm ghi chú là con đẻ của ai.
Nơi thờ cúng và văn bản của họ
Nhà thờ họ, từ đường
Nhà thờ họ, còn gọi là từ đường, là nơi thờ tổ tiên chung của cả họ, thường cũng là nơi họp họ và làm lễ giỗ tổ. Chi lớn có thể có nhà thờ chi riêng.
Phả ký, phả hệ, phả đồ
Phả ký là phần ghi chép bằng lời về nguồn gốc dòng họ, quá trình di cư lập nghiệp, sự tích và công đức của tổ tiên. Phả hệ là phần ghi từng người theo các đời. Phả đồ là sơ đồ hình cây cho thấy quan hệ giữa các đời và các nhánh.
Tộc ước
Tộc ước là những quy ước chung do cả họ thống nhất, chẳng hạn việc tổ chức giỗ tổ, đóng góp quỹ họ, khuyến học, cách ghi chép gia phả và cách ứng xử giữa con cháu.
Hương hoả
Hương hoả nghĩa đen là hương và lửa, chỉ việc thờ cúng tổ tiên. Từ này cũng dùng để chỉ phần tài sản, thường là nhà, đất, được dành riêng cho việc thờ cúng và giao cho người giữ việc thờ cúng quản lý.
Ngày tháng
Ngày giỗ
Ngày giỗ (kỵ nhật, húy nhật) là ngày mất của người đã khuất tính theo âm lịch, con cháu làm lễ tưởng nhớ hằng năm. Cách tính khi người mất vào tháng nhuận hay ngày 30 có trong bài Cách tính ngày giỗ theo âm lịch.
Can chi
Gia phả cũ thường ghi năm theo can chi, như năm Giáp Tý, năm Ất Dậu. Có 10 can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) và 12 chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi). Ghép lần lượt với nhau được 60 tổ hợp, nên cứ 60 năm tên năm lại lặp lại.
Muốn biết can của một năm dương lịch, nhìn chữ số cuối của năm:
| Chữ số cuối | 0 | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Can | Canh | Tân | Nhâm | Quý | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ |
Ví dụ năm 2026 tận cùng là 6 nên có can Bính, đó là năm Bính Ngọ. Khi đọc năm can chi trong gia phả, cần nhớ:
- Năm can chi tính theo năm âm lịch, bắt đầu từ Tết, nên người sinh vào tháng 1 hoặc tháng 2 dương lịch mà trước Tết thì vẫn thuộc năm can chi trước.
- Vì 60 năm mới lặp một lần, một năm "Giáp Tý" có thể là 1864, 1924 hay 1984. Cần dựa vào đời, tuổi, niên hiệu vua (nếu có) để xác định đúng năm.
Muốn tra nhanh ngày âm, ngày dương, bạn có thể dùng công cụ đổi ngày âm dương.
Câu hỏi thường gặp
Chi và phái, cái nào lớn hơn?
Tuỳ từng họ. Nhiều họ coi phái lớn hơn chi, có họ dùng ngược lại. Hãy xem phần quy ước trong gia phả của dòng họ nhà mình.
Thủy tổ và tiên tổ khác nhau thế nào?
Thủy tổ là vị tổ đầu tiên được ghi trong gia phả, còn tiên tổ là tổ tiên các đời trước nói chung.
Tên húy có cần giữ kín không?
Xưa con cháu kiêng gọi tên húy của ông bà, cha mẹ. Ngày nay ít nhà kiêng ngặt, nhưng nhiều gia đình vẫn tránh gọi thẳng tên các cụ. Gia phả thì vẫn nên ghi tên húy để lưu giữ.
Trong gia phả trên mạng có ghi được tên húy, tên tự, chi phái không?
Có. Trên Họ Mình, mỗi người có ô riêng cho tên húy, tên tự hoặc tên hiệu, tên thường gọi; gia phả chia được chi phái, và thủy tổ được đặt là đời thứ nhất. Xem thêm Cách lập gia phả dòng họ.