Bỏ qua, tới nội dung chính

Nguồn gốc dòng họ

Họ Bùi

Nguồn gốc họ Bùi: lịch sử, chữ Hán, nhân vật tiêu biểu

Họ Bùi (裴) chiếm khoảng 2% dân số Việt Nam. Chữ Hán, chuyện họ Phí đổi sang họ Bùi thời Trần, di tích và nhân vật họ Bùi được sử sách ghi lại.

Cập nhật 9 phút đọc

Thông tin nhanh

Chữ Hán
裴
Tỉ lệ dân số
khoảng 2,1% dân số (ước tính 2022)
Nguồn tham khảo
11 tài liệu
Mục lục · 7 mục

Họ Bùi, chữ Hán viết là 裴, là một trong khoảng mười họ đông người nhất ở Việt Nam.[1] Trang này tóm tắt những gì sử sách, báo chí và tài liệu tra cứu ghi lại về họ Bùi: chữ Hán, các ý kiến về nguồn gốc, chuyện một người họ Phí được vua Trần đổi sang họ Bùi, cùng một số di tích và nhân vật họ Bùi tiêu biểu.

Nguồn gốc họ Bùi

Chữ Hán và họ Bùi ở các nước

Họ Bùi viết bằng chữ 裴. Cùng chữ này, tiếng Trung đọc là Péi, tiếng Hàn đọc là Bae (배).[2] Ở Trung Quốc, sách Thông chí của Trịnh Tiều (đời Tống) chép tổ tiên họ Bùi là con cháu Bá Ích; về sau dòng "Hà Đông Bùi thị" trở thành một thế tộc lớn thời Ngụy, Tấn và thời Đường.[2]

Ý kiến về nguồn gốc họ Bùi ở Việt Nam

Một số tài liệu phổ biến, như Wikipedia tiếng Việt và bài viết của Đài Tiếng nói Nhân dân TP.HCM (VOH), cho rằng họ Bùi ở Việt Nam là họ bản địa, có từ thời các vua Hùng.[1][2] Chúng tôi chưa tìm thấy công trình khảo cứu nào xác định một ông tổ chung cho tất cả người họ Bùi, nên cần hiểu đây là một ý kiến, chưa phải kết luận đã ngã ngũ.

Điều chắc chắn hơn là người họ Bùi ngày nay thuộc nhiều dòng khác nhau. Có dòng hình thành từ việc đổi họ, như câu chuyện dưới đây.

Chuyện họ Phí đổi sang họ Bùi

Theo Đại Việt sử ký toàn thư (được Wikipedia tiếng Việt dẫn lại), vị quan nhà Trần Bùi Mộc Đạc vốn tên là Phí Mộc Lạc (費木落), người làng Tri Lai. Nhà vua cho rằng họ Phí ít gặp, còn tên "Mộc Lạc" nghĩa là cây đổ, không phải điềm lành, nên đổi cho ông thành Bùi Mộc Đạc. Sử còn chép rằng về sau nhiều người họ Phí mến danh ông cũng đổi sang họ Bùi.[3]

Báo Văn Hóa ghi việc đổi họ này diễn ra năm 1304, dưới triều vua Trần Anh Tông (Wikipedia tiếng Việt thì ghi người đổi tên cho ông là vua Trần Nhân Tông), và cho biết gia phả dòng họ Bùi gốc Phí đến nay vẫn còn lưu giữ.[4] Vì vậy, khi một dòng họ Bùi chép rằng tổ tiên vốn họ Phí thì không có gì lạ; nhưng cũng không nên suy ra mọi người họ Bùi đều gốc Phí.

Họ Bùi ở Việt Nam ngày nay

Theo cuốn 100 họ phổ biến ở Việt Nam (NXB Khoa học Xã hội, 2022) được VOH dẫn lại, họ Bùi chiếm khoảng 2,1% dân số, đứng thứ 9 trong các họ đông người nhất.[1] PGS.TS Lê Trung Hoa ghi họ Bùi chiếm khoảng 2%, cũng đứng thứ 9 trong danh sách của ông.[5] Đây đều là số ước tính, chỉ nên dùng để hình dung quy mô.

Họ Bùi không chỉ có ở người Kinh. Theo Wikipedia tiếng Việt, khá nhiều người họ Bùi là người Mường, tập trung ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, Sơn La và Ninh Bình (tên tỉnh theo cách gọi trước năm 2025).[2]

Nhà thờ họ Bùi và các di tích tiêu biểu

Dưới đây là một số di tích gắn với người họ Bùi đã được Nhà nước xếp hạng hoặc được báo chí giới thiệu. Địa danh ghi theo nguồn tại thời điểm đăng bài; một số xã, huyện, tỉnh đã đổi tên sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025.

  • Từ đường danh nhân Bùi Viện ở thôn Trình Trung Tây, xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình: được xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa cấp Quốc gia năm 1989. Sau nhiều năm xuống cấp, một nhà tưởng niệm mới được khánh thành trên nền cũ năm 2021.[6]
  • Mộ và đền thờ Trấn Quốc công Bùi Tá Hán ở tổ 10, phường Quảng Phú, TP Quảng Ngãi: được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1990.[7]
  • Nhà thờ hai tướng Bùi Văn Sưu và Bùi Văn Cầu ở xã Thuần Thiện, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh: được công nhận di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh năm 2012. Con cháu họ Bùi đã cùng đóng góp để dựng lại nhà thờ trên nền cũ vào năm 2023.[8]
  • Đền thờ đô đốc Bùi Thị Xuân ở vùng Tây Sơn (Bình Định cũ, nay là xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai), bên Quốc lộ 19. Gần đó có nhà thờ họ Bùi, nơi theo lời kể bà từng sinh sống hơn hai thế kỷ trước.[9]

Nhân vật lịch sử tiêu biểu

  • Bùi Mộc Đạc (thời Trần): văn thần, khoảng năm 1306 đi sứ nhà Nguyên; năm 1320 giữ chức Tri Thẩm hình viện sự kiêm Chuyển vận sứ lộ Hoàng Giang.[3]
  • Bùi Tá Hán (1496–1568): võ tướng theo Nguyễn Kim phò nhà Lê; năm 1546 trấn nhậm Quảng Nam với tước Trấn Quận công, có công ổn định vùng đất từ Đà Nẵng đến Phú Yên ngày nay.[7]
  • Bùi Văn Sưu và Bùi Văn Cầu (sinh năm 1703 và 1706): hai anh em, đều là tướng của triều đình Lê – Trịnh.[8]
  • Bùi Dương Lịch (1757–1828): người thôn Yên Hội (nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh), đỗ Hội nguyên, Hoàng giáp năm 1787; làm việc qua ba triều Lê, Tây Sơn, Nguyễn; tác giả Nghệ An ký.[10]
  • Bùi Thị Xuân (?–1802): nữ tướng nhà Tây Sơn, hàm đô đốc, vợ Thiếu phó Trần Quang Diệu, quê làng Xuân Hòa, phủ Quy Nhơn. Năm 1802 bà chỉ huy khoảng 5.000 quân ở Trấn Ninh, sau bị quân Nguyễn bắt và mất vào cuối năm đó tại Phú Xuân.[11] Một lời kể trong gia đình họ Bùi ở Tây Sơn lại cho rằng bà thoát được và ở ẩn đến cuối đời; đây là truyền thuyết, khác với sử sách.[9]
  • Bùi Viện (?–1878): quê làng Trình Phố (nay thuộc huyện Tiền Hải, Thái Bình). Báo Nhân Dân ghi ông là người đầu tiên hai lần vượt đại dương sang Hoa Kỳ để tìm sự ủng hộ chống thực dân Pháp, và có công biến bến Ninh Hải thành thương cảng Hải Phòng. Ông mất đột ngột năm 1878, khi mới 40 tuổi.[6]

Câu hỏi thường gặp

Họ Bùi chữ Hán viết thế nào?

Họ Bùi viết là 裴. Đây cũng là chữ của họ Pei ở Trung Quốc và họ Bae ở Hàn Quốc.[2] Khi đọc gia phả, bia mộ hay câu đối chữ Hán, gặp chữ 裴 đứng đầu tên người thì đó là người họ Bùi.

Họ Bùi có phải gốc Trung Quốc không?

Chưa có câu trả lời chung cho mọi dòng họ Bùi. Chữ 裴 là chữ Hán và cũng là một họ ở Trung Quốc,[2] nhưng nhiều tài liệu Việt Nam lại coi họ Bùi là họ bản địa có từ lâu đời.[1] Mỗi dòng họ Bùi nên dựa vào gia phả và tư liệu của chính mình, thay vì suy ra từ chữ viết của họ.

Họ Phí và họ Bùi có liên quan gì?

Theo sử cũ, thời Trần có ông Phí Mộc Lạc được vua đổi tên thành Bùi Mộc Đạc, và sau đó nhiều người họ Phí cũng đổi sang họ Bùi.[3] Vì vậy có những dòng họ Bùi gốc Phí, nhưng không phải tất cả người họ Bùi đều như thế.

Lập gia phả họ Bùi

Họ Bùi đông người và có nhiều dòng độc lập: có dòng người Kinh, có dòng người Mường, có dòng chép rằng tổ tiên vốn họ Phí. Khi lập gia phả, hãy ghi rõ thủy tổ của chi mình, quê gốc (tên làng, xã cũ và tên mới sau sáp nhập) cùng các chi, phái, thay vì chỉ ghi chung là "họ Bùi". Nếu gia đình truyền lại chuyện đổi họ hay một nguồn gốc xa xưa, hãy chép lại kèm ghi chú ai kể và tư liệu nào làm bằng. Cách làm từng bước có trong bài Cách lập gia phả dòng họ.

Nguồn tham khảo

  1. Top 15 dòng họ lớn nhất Việt Nam có thể bạn chưa biết — VOH (Đài Tiếng nói Nhân dân TP.HCM), 2023
  2. Bùi (họ) — Wikipedia tiếng Việt
  3. Bùi Mộc Đạc — Wikipedia tiếng Việt
  4. Truy tặng “Cúp Bông Hồng Vàng” cho Thủy tổ nghề gốm sứ Chu Đậu — Báo Văn Hóa, 2017
  5. Tại sao ở Việt Nam, số người mang họ Nguyễn nhiều nhất? — Lê Trung Hoa, Khoa Văn học và Ngôn ngữ học, ĐH KHXH&NV TP.HCM, 2016
  6. Khánh thành nhà tưởng niệm danh nhân văn hóa Bùi Viện — Báo Nhân Dân, 2021
  7. Lễ giỗ 457 năm ngày mất của Trấn Quốc công Bùi Tá Hán — Báo Văn Hóa, 2025
  8. Hoàn thành tu sửa, xây mới nhà thờ 2 vị tướng ở Can Lộc — Báo Hà Tĩnh, 2024
  9. Tháng giêng, viếng đô đốc Bùi Thị Xuân — Tuổi Trẻ Online, 2026
  10. Bùi Dương Lịch (1757-1828) — Báo Hà Tĩnh, 2009
  11. Nữ tướng triều Tây Sơn — Sự kiện và Nhân chứng, Báo Quân đội nhân dân, 2023

Thông tin tổng hợp từ các nguồn công khai, có ghi nguồn. Nếu bạn có tư liệu bổ sung hoặc cần đính chính, xin gửi về lienhe@hominh.com.

Cập nhật:

Các họ liên quan

Xem tất cả các họ