Mục lục · 7 mục
Họ Đoàn không thuộc nhóm họ đông nhất, nhưng có mặt trong sử Việt từ thời Lý – Trần, với những tên tuổi như Đoàn Thượng, Đoàn Nhữ Hài, và về sau là nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Bài viết này tóm tắt những gì sử sách và các nguồn đáng tin nói về chữ Hán, nguồn gốc, nơi thờ tự và các nhân vật tiêu biểu của họ Đoàn.
Nguồn gốc họ Đoàn
Chữ Hán: 段, không phải 團
Họ Đoàn viết bằng chữ Hán là 段. Chữ này còn có âm "đoạn" (như trong "giai đoạn"), nhưng trong sử sách không thấy ai mang họ này được gọi là họ "Đoạn". Cũng cần phân biệt với chữ 團 (đoàn trong "đoàn thể"), là một chữ khác hẳn.[1]
Họ Đoàn ở Trung Quốc và chuyện nước Đại Lý
Ở Trung Quốc, một nguồn gốc được nhắc tới của họ Đoàn là bộ tộc Đoàn thuộc người Tiên Ti thời Hán, về sau tản mác vào vùng Trung Nguyên và bị Hán hóa. Họ Đoàn cũng là họ của các vua nước Đại Lý (ở vùng Vân Nam ngày nay), bắt đầu từ Đoàn Tư Bình năm 937 và kéo dài đến khi quân Mông Cổ chiếm nước này năm 1253.[1]
Vì cùng họ, có người cho rằng họ Đoàn ở Việt Nam có gốc từ Đại Lý, nhưng đến nay chưa có căn cứ chứng minh điều đó.[1]
Họ Đoàn ở Việt Nam
Theo Wikipedia tiếng Việt (dẫn tài liệu của họ Đoàn), các tông chủ họ Đoàn tôn Đoàn Văn Khâm và Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng làm cao tổ của họ Đoàn ở Việt Nam; ngày giỗ tổ được chọn là mồng 8 tháng Giêng âm lịch, và đền thờ cao tổ do các tông chi họ Đoàn dựng ở xã Trường Tân (nay thuộc Hải Phòng).[1] Đây là truyền thống của dòng họ, chưa phải kết luận của sử học; các chi họ Đoàn khác nhau có thể có thủy tổ và quê gốc riêng.
Đoàn Văn Khâm là một quan và nhà thơ thời vua Lý Nhân Tông (thế kỷ XI). Một số bài thơ chữ Hán của ông còn được chép lại trong Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích và Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn.[2]
Đoàn Thượng là người họ Đoàn được chính sử chép lại khá rõ. Đại Việt sử ký toàn thư cho biết những năm đầu nhà Trần, Đoàn Thượng vẫn chiếm giữ vùng Hồng Châu, binh thế còn mạnh; triều đình sai Trần Thủ Độ đem quân đi đánh nhưng chưa khuất phục được, bèn hẹn phong vương cho ông, song đến kỳ hẹn thề ước thì Đoàn Thượng không tới. Tháng 12 năm Mậu Tý (1228), ông bị Nguyễn Nộn đánh giết.[3] Theo ngọc phả địa phương, ông sinh năm 1181, quê làng Thung Độ (vùng Gia Lộc, Hải Dương cũ), được các triều sau phong là Đông Hải Đại vương.[4]
Họ Đoàn ở Việt Nam ngày nay
Chúng tôi chưa tìm được thống kê đáng tin về tỷ lệ người mang họ Đoàn trong dân số. Họ Đoàn không có trong danh sách 15 họ đông nhất Việt Nam theo cuốn "100 họ phổ biến ở Việt Nam" (NXB Khoa học Xã hội, 2022) mà VOH dẫn lại.[5]
Hai nhân vật họ Đoàn nổi bật thời Lý – Trần là Đoàn Thượng và Đoàn Nhữ Hài đều có quê ở vùng Hồng Châu xưa, nay thuộc Hải Phòng.[4][6] Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm thì quê ở làng Giai Phạm, nay thuộc Hưng Yên.[7]
Nhà thờ họ Đoàn và các di tích liên quan
Địa danh dưới đây ghi theo nguồn; sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, nhiều nơi đã đổi tên hoặc sáp nhập.
- Đền thờ Đoàn Thượng: đền chính ở quê ông, làng Thung Độ, xã Trường Tân (nay thuộc Hải Phòng); ngoài ra ông còn được thờ ở làng Yên Phú (huyện Yên Mỹ) và ở Bần – Yên Nhân (thị xã Mỹ Hào), tỉnh Hưng Yên, nơi có lễ hội vào ngày 11 tháng Tư âm lịch.[4]
- Nhà tưởng niệm Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm: ở thôn Giai Phạm, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên;[8] Wikipedia tiếng Việt ghi đây là di tích lịch sử cấp tỉnh.[7]
Nhân vật lịch sử tiêu biểu
- Đoàn Văn Khâm (thế kỷ XI): quan và nhà thơ thời Lý Nhân Tông, còn để lại một số bài thơ chữ Hán.[2]
- Đoàn Thượng (1181–1228): hào trưởng cát cứ vùng Hồng Châu thời cuối Lý – đầu Trần, bị Nguyễn Nộn giết năm 1228; được thờ với danh hiệu Đông Hải Đại vương.[3][4]
- Đoàn Nhữ Hài (1280–1335): chưa đầy 20 tuổi đã được vua Trần Anh Tông cho làm quan Ngự sử, từng đi sứ Chiêm Thành, làm Tri khu mật viện sự; năm 1335 cầm quân đánh Ai Lao, bị phục binh đánh bại và chết đuối.[6][9]
- Đoàn Thị Điểm (1705–1748; có tài liệu ghi năm mất là 1749): nữ sĩ hiệu Hồng Hà, quê làng Giai Phạm; tác giả tập truyện chữ Hán "Truyền kỳ tân phả". Bà được nhiều người cho là đã dịch "Chinh phụ ngâm" của Đặng Trần Côn ra chữ Nôm, nhưng việc bản dịch phổ biến hiện nay là của bà hay của Phan Huy Ích vẫn còn tranh luận.[7]
Câu hỏi thường gặp
Họ Đoàn viết chữ Hán thế nào?
Họ Đoàn viết là 段. Không nên nhầm với chữ 團 (đoàn trong "đoàn kết", "đoàn thể"), vì đó là một chữ khác.[1]
Họ Đoàn ở Việt Nam có phải con cháu vua nước Đại Lý?
Nước Đại Lý do các vua họ Đoàn (段) cai trị từ năm 937 đến năm 1253, nên có người liên hệ hai dòng họ với nhau. Tuy vậy, chưa có căn cứ chứng minh người họ Đoàn từ Đại Lý đã sang Việt Nam lập nghiệp.[1] Họ Đoàn đã xuất hiện trong sử Việt từ thời Lý – Trần, như Đoàn Văn Khâm thời Lý Nhân Tông[2] hay Đoàn Thượng đầu thế kỷ XIII.[3]
Thủy tổ họ Đoàn Việt Nam là ai?
Theo truyền thống của dòng họ (được Wikipedia tiếng Việt ghi lại), Đoàn Văn Khâm và Đoàn Thượng được tôn là cao tổ của họ Đoàn ở Việt Nam.[1] Tuy vậy, mỗi chi họ Đoàn có thể có thủy tổ riêng; muốn biết chi mình từ đâu, cần đối chiếu gia phả, bia ký của chính chi đó.
Lập gia phả họ Đoàn
Khi lập gia phả họ Đoàn, hãy ghi rõ thủy tổ chi mình, làng gốc (kèm tên cũ và tên mới nếu địa phương đã sáp nhập) và chi, phái. Nếu chi họ có truyền thống thờ vọng Đoàn Thượng hay Đoàn Văn Khâm, nên ghi đó là truyền thống của dòng họ, và chỉ nối phả hệ lên các vị này khi có gia phả cũ hoặc bia ký làm bằng. Các bước cụ thể có trong bài Cách lập gia phả dòng họ.
Nguồn tham khảo
- Đoàn (họ) — Wikipedia tiếng Việt
- Đoàn Văn Khâm — Wikipedia tiếng Việt
- 大越史記全書/本紀卷之五 — Wikisource tiếng Trung (nguyên văn chữ Hán Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 5)
- Đoàn Thượng — Wikipedia tiếng Việt
- Top 15 dòng họ lớn nhất Việt Nam có thể bạn chưa biết — VOH, 2023
- Đoàn Nhữ Hài — Wikipedia tiếng Việt
- Đoàn Thị Điểm — Wikipedia tiếng Việt
- Yên Mỹ phát huy sức mạnh nội sinh — Báo Nhân Dân, 2023
- 大越史記全書/本紀卷之七 — Wikisource tiếng Trung (nguyên văn chữ Hán Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 7)
Thông tin tổng hợp từ các nguồn công khai, có ghi nguồn. Nếu bạn có tư liệu bổ sung hoặc cần đính chính, xin gửi về lienhe@hominh.com.
Cập nhật: