Bỏ qua, tới nội dung chính

Nguồn gốc dòng họ

Họ Hà

Nguồn gốc họ Hà: lịch sử, chữ Hán, nhân vật tiêu biểu

Họ Hà chữ Hán 何: nguồn gốc, họ Hà ở người Kinh và người Mường, dòng họ Hà ở Hà Tĩnh với bia Sùng Chỉ, các nhân vật như Hà Tông Mục, Hà Tông Quyền.

Cập nhật 7 phút đọc

Thông tin nhanh

Chữ Hán
何
Nguồn tham khảo
6 tài liệu
Mục lục · 7 mục

Hà là một họ có mặt ở nhiều vùng của Việt Nam, chữ Hán viết là 何. Họ Hà có ở người Kinh, và cũng là một trong những dòng họ lâu đời của người Mường. Bài này tóm tắt những gì các nguồn tư liệu ghi lại về chữ Hán của họ, các dòng họ Hà tiêu biểu (nhất là ở Hà Tĩnh, nơi có bia đá được công nhận là bảo vật quốc gia) và các nhân vật lịch sử mang họ Hà.

Nguồn gốc họ Hà

Chữ 何 của họ Hà có nghĩa gốc là "cái gì", như trong "hà cớ gì". Không nên nhầm với chữ 河 cũng đọc là "hà" nhưng có nghĩa là sông.[1] Họ Hà có ở Việt Nam, Trung Quốc và Triều Tiên; ở Trung Quốc, họ này đứng thứ 21 trong sách "Bách gia tính".[1]

Ở Việt Nam, chúng tôi chưa thấy tư liệu nào cho thấy mọi người họ Hà cùng chung một ông tổ. Các nguồn cho thấy họ Hà gồm nhiều dòng riêng biệt, mỗi dòng có thủy tổ và quê gốc riêng, ví dụ dòng họ Hà ở Hà Tĩnh hay các dòng họ Hà trong cộng đồng người Mường được nói đến dưới đây.[2][3]

Họ Hà ở Việt Nam ngày nay

Hiện chưa có số liệu đáng tin cậy được công bố rộng rãi về tỷ lệ người mang họ Hà trong dân số. Họ Hà có mặt ở nhiều tỉnh, trong đó có hai nhóm được tư liệu nói đến khá rõ.

Họ Hà ở người Mường

Theo một nghiên cứu đăng trên Tạp chí Dân tộc học (2012), trước năm 1945 người Mường ở Hòa Bình sống tập trung ở bốn vùng lớn là Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng và Mường Động. Các dòng họ quý tộc làm lang đạo cai quản lâu đời ở đây là Đinh, Quách, Bạch và Hà.[2] Ở miền núi Thanh Hóa, cũng theo nghiên cứu này, người Mường được tổ chức thành khoảng 40 mường do một số dòng họ lang nối đời đứng đầu, trong đó họ Hà đứng đầu 4 mường.[2]

Vì vậy, nhiều gia đình họ Hà ở Hòa Bình, Thanh Hóa là người Mường, có phong tục và cách ghi chép gia phả riêng của dân tộc mình.

Họ Hà ở Hà Tĩnh

Theo gia phả được Báo Hà Tĩnh dẫn lại, một dòng họ Hà ở Hà Tĩnh tôn ông Hà Mại (1334–1410) làm thủy tổ, được thờ ở Tùng Lộc (Can Lộc); dòng họ có gốc ở vùng Lạc Dung, Kỳ Hoa (nay thuộc huyện Cẩm Xuyên). Đến năm 1584, ông Hà Sán, đời thứ 7, chuyển từ Tùng Lộc đến Bảo Kệ (Nghi Xuân). Chi họ Hà Văn ở An Mỹ (thị trấn Tiên Điền, huyện Nghi Xuân) bắt đầu từ năm 1843, khi ông Hà Văn Hanh đỗ tú tài rồi về lập nghiệp ở đây.[3]

Nhà thờ họ Hà và các di tích tiêu biểu

Địa danh dưới đây ghi theo nguồn tại thời điểm đăng bài; sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, tên xã, huyện ở một số nơi có thể đã thay đổi.

Đền thờ Hà Tông Mục và bia Sùng Chỉ (Tùng Lộc, Can Lộc)

Ở xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh có đền thờ danh nhân Hà Tông Mục, được xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia năm 1998.[4] Tại đây có tấm bia "Sùng Chỉ bi ký" bằng đá xanh, dựng năm 1696 để ghi công ông, được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia năm 2020.[4] Điều đặc biệt là người dân đã dựng bia và lập sinh từ (đền thờ người còn sống) cho ông ngay khi ông còn làm quan.[5]

Lăng mộ Hà Công Trình (Tùng Lộc, Can Lộc)

Cũng ở Tùng Lộc, lăng mộ ông Hà Công Trình được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia năm 2024. Lễ công bố được tổ chức tại nhà thờ họ Hà ở xã Tùng Lộc.[4]

Nhà thờ họ Hà – An Mỹ (Tiên Điền, Nghi Xuân)

Nhà thờ họ Hà – An Mỹ ở thị trấn Tiên Điền, huyện Nghi Xuân được UBND tỉnh Hà Tĩnh xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 2819/QĐ-UBND ngày 1/11/2023; lễ đón bằng diễn ra tháng 2/2024.[3]

Nhân vật lịch sử tiêu biểu

  • Hà Công Trình (1434–1511): người trong dòng họ Hà ở Hà Tĩnh; đỗ Tiến sĩ đời vua Lê Thánh Tông, làm Thượng thư bộ Hình và bộ Công, năm 1502 giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám.[3]
  • Hà Tông Mục (1653–1707): quê xã Tùng Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh); đỗ đầu thi hương năm 1675, đỗ Tiến sĩ năm 1688. Ông từng làm Phủ doãn phủ Phụng Thiên, năm 1702 làm Chánh sứ sang nhà Thanh, sau làm Tả thị lang bộ Hình.[5]
  • Hà Tông Quyền (1798–1839): quê làng Cát Động, huyện Thanh Oai (nay thuộc Hà Nội); đỗ Tiến sĩ năm 1822, làm quan đến Tham tri bộ Lại dưới triều Minh Mạng; tác giả chùm ba mươi bài thơ Nôm "Vịnh Kiều".[6]
  • Hà Văn Tấn (1937–2019): giáo sư, từng là Viện trưởng Viện Khảo cổ học;[1] Nhà giáo Nhân dân, người thuộc chi họ Hà ở An Mỹ, Tiên Điền, Nghi Xuân.[3]

Câu hỏi thường gặp

Họ Hà có phải gốc Hoa không?

Không thể nói chung như vậy. Chữ 何 là chữ Hán và họ Hà cũng có ở Trung Quốc,[1] nhưng ở Việt Nam có những dòng họ Hà đã sống hàng trăm năm, như dòng họ Hà ở Hà Tĩnh tôn thủy tổ từ thế kỷ XIV,[3] và có những dòng họ Hà là người Mường.[2] Mỗi dòng cần dựa vào gia phả của chính mình.

Họ Hà là người dân tộc gì?

Họ Hà có ở người Kinh, và cũng là một trong những dòng họ lang đạo lâu đời của người Mường ở Hòa Bình và Thanh Hóa.[2] Hai người cùng họ Hà vì thế có thể thuộc những dân tộc và những dòng hoàn toàn khác nhau.

Bia Sùng Chỉ là gì?

Đó là tấm bia đá dựng năm 1696 ở xã Tùng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh để ghi công danh nhân Hà Tông Mục, được công nhận là bảo vật quốc gia năm 2020.[4]

Lập gia phả họ Hà

Họ Hà có nhiều dòng ở nhiều vùng, nên khi lập gia phả cần ghi rõ thủy tổ, quê gốc và tên chi, phái. Nếu dòng mình là người Mường, nên ghi cả tên mường, tên xóm cũ và những phong tục riêng trong việc thờ cúng, vì đó là thông tin con cháu sau này khó tìm lại. Các bước cụ thể có trong bài Cách lập gia phả dòng họ.

Nguồn tham khảo

Thông tin tổng hợp từ các nguồn công khai, có ghi nguồn. Nếu bạn có tư liệu bổ sung hoặc cần đính chính, xin gửi về lienhe@hominh.com.

Cập nhật:

Các họ liên quan

Xem tất cả các họ