Mục lục · 7 mục
Họ Kiều là một họ ít người ở Việt Nam nhưng có mặt trong sử từ rất sớm: ngay thế kỷ X đã có Kiều Công Tiễn và hai sứ quân họ Kiều. Điều thú vị là những người họ Kiều thời ấy được sử cũ ghi bằng chữ 矯, khác với chữ 喬 thường gặp ở các nhân vật họ Kiều về sau. Bài viết này tóm tắt những gì các nguồn nói về chữ Hán, nguồn gốc và các nhân vật tiêu biểu của họ Kiều.
Nguồn gốc họ Kiều
Chữ Hán: 喬 và 矯
Chữ Hán thường dùng cho họ Kiều là 喬 (giản thể: 乔); âm Hán Việt của chữ này là "kiều",[1] nghĩa gốc là "cao, cao vút".[2] Ở Trung Quốc, đây là họ Qiao, đứng thứ 282 trong sách Bách gia tính.[3] Các nhân vật họ Kiều thời Lê và thời Nguyễn cũng viết họ bằng chữ 喬, như Kiều Phú (喬富)[4] và Kiều Oánh Mậu, tên thật là Kiều Dực (喬翼).[5]
Tuy vậy, những người họ Kiều ở thế kỷ X lại được Đại Việt sử ký toàn thư ghi bằng chữ 矯: Kiều Công Tiễn là 矯公羡, các sứ quân là Kiều Tam Chế (矯三制) và Kiều Lệnh Công (矯令公).[6][7] Chữ 矯 trong từ điển thường đọc là "kiểu",[8] và Wikipedia tiếng Việt cũng lưu ý điểm này, nhưng sách sử tiếng Việt quen gọi những nhân vật ấy là họ Kiều.[3] Hiện chưa có nguồn đáng tin nào cho biết các dòng họ Kiều (喬) ngày nay có quan hệ với dòng họ Kiều (矯) thế kỷ X hay không.
Họ Kiều thế kỷ X
Kiều Công Tiễn là người Phong Châu (vùng Phú Thọ ngày nay),[9] làm nha tướng dưới quyền Dương Đình Nghệ.[6] Theo Toàn thư, tháng Ba năm Đinh Dậu (937), Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ để thay quyền; năm sau (938), Ngô Quyền đem quân từ Ái Châu ra đánh và giết Kiều Công Tiễn.[6]
Khi đất nước rơi vào cảnh mười hai sứ quân, Toàn thư chép có hai sứ quân họ Kiều: Kiều Tam Chế giữ Phong Châu và Kiều Lệnh Công giữ Hồi Hồ.[7] Ở một chỗ khác, Toàn thư ghi rõ Kiều Tam Chế là Kiều Công Hãn (矯公罕) và Kiều Lệnh Công là Kiều Thuận (矯順).[6] Theo một số tài liệu, trong đó có Báo Phú Thọ, cả hai là cháu nội của Kiều Công Tiễn.[10][11] Cả hai đều bị Đinh Bộ Lĩnh đánh bại trong những năm 960.[10][12]
Họ Kiều ở Việt Nam ngày nay
Chúng tôi chưa tìm được thống kê đáng tin về số người mang họ Kiều. Họ Kiều không có trong danh sách 15 họ đông nhất Việt Nam theo cuốn "100 họ phổ biến ở Việt Nam" (NXB Khoa học Xã hội, 2022) mà VOH dẫn lại.[13]
Hai nhân vật họ Kiều tiêu biểu thời Lê và thời Nguyễn đều là người xứ Sơn Tây cũ (nay thuộc Hà Nội): Kiều Phú quê Liệp Tuyết (Quốc Oai), Kiều Oánh Mậu quê làng Đông Sàng (Đường Lâm, Sơn Tây).[4][5] Các nơi thờ hai sứ quân họ Kiều thì nằm ở Phú Thọ và vùng Nam Định cũ.[11][14]
Nơi thờ tự liên quan đến họ Kiều
Địa danh dưới đây ghi theo nguồn; sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, nhiều nơi đã đổi tên hoặc sáp nhập.
- Đền Trù Mật (thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ): còn gọi là đền Lăng, vì vừa là lăng mộ vừa là đền thờ sứ quân Kiều Thuận (Kiều Công Thuận); tương truyền đền được dựng năm 970. Đền được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1999. Hằng năm, dân hai làng Trù Mật và Phú An làm lễ vào ngày 4 tháng Giêng (ngày mất của ông), ngày 18 tháng Hai (ngày sinh) và ngày 16 tháng Mười âm lịch (ngày lập đền).[11] Ông còn được thờ ở đình Nhạp, miếu Phe Nam và đình Đoài (Cẩm Khê).[12]
- Đền Gin (xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định cũ): thờ Kiều Công Hãn. Theo tích truyền ở địa phương, ông mất tại Lũng Kiều, làng Hiệp Luật (nay là xóm Chiền) và dân bốn làng dựng đền trên chỗ mộ cũ. Đền được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc cấp quốc gia năm 1962. Hội đền Gin diễn ra từ mùng 8 đến mùng 10 tháng Chạp, có lễ tế cá trắm, gắn với chuyện một bà bán rượu trong vùng dâng rượu và gỏi cá trắm cho ông lúc ông bị thương.[14] Ông còn được thờ ở đền Tây Lạc gần đó.[10]
Nhân vật lịch sử tiêu biểu
- Kiều Công Tiễn (?–938): người Phong Châu, giết Dương Đình Nghệ năm 937 rồi bị Ngô Quyền giết năm 938.[6][9]
- Kiều Công Hãn (?–967): sứ quân giữ Phong Châu, hiệu Kiều Tam Chế; năm 967 thua quân Đinh Bộ Lĩnh, chạy về phương nam thì bị giết.[10] Dân gian nơi thờ ông còn truyền rằng ông từng hiến kế cho Ngô Quyền bày trận trên sông Bạch Đằng.[14]
- Kiều Thuận (? – khoảng năm 966 đến 968): sứ quân giữ Hồi Hồ (vùng Cẩm Khê, Phú Thọ), hiệu Kiều Lệnh Công; bị Đinh Bộ Lĩnh đánh bại.[12]
- Kiều Phú (喬富, sinh năm 1447; có tài liệu ghi 1446): đỗ Hoàng giáp khoa Ất Mùi (1475) đời Lê Thánh Tông; năm 1493 viết bài hậu tự cho sách "Lĩnh Nam chích quái".[4]
- Kiều Oánh Mậu (1854–1912): tên thật là Kiều Dực, người làng Đông Sàng (nay thuộc Đường Lâm, Hà Nội); đỗ Phó bảng năm 1880; tác giả "Bản triều bạn nghịch liệt truyện", người hiệu đính và cho in "Truyện Kiều" với tên "Đoạn trường tân thanh".[5]
Câu hỏi thường gặp
Họ Kiều viết chữ Hán thế nào?
Các dòng họ Kiều thường viết là 喬 (âm Hán Việt "kiều").[1] Riêng những nhân vật họ Kiều thế kỷ X như Kiều Công Tiễn, Kiều Công Hãn, Kiều Thuận được sử cũ ghi bằng chữ 矯.[6][7] Nếu gia phả cũ của chi họ bạn viết chữ khác, hãy chép đúng như bản gốc.
Họ Kiều có phải gốc Hoa không?
Chữ 喬 cũng là một họ ở Trung Quốc (Qiao),[3] nhưng họ Kiều đã có mặt trong sử Việt từ thế kỷ X, với các nhân vật quê Phong Châu.[9] Không thể kết luận chung cho mọi người họ Kiều; mỗi chi cần dựa vào gia phả riêng.
Họ Kiều ở Việt Nam có phải con cháu Kiều Công Tiễn?
Chúng tôi chưa thấy nguồn đáng tin nào xác nhận điều này cho các dòng họ Kiều nói chung. Ngoài chuyện chữ viết khác nhau (矯 và 喬), cũng chưa thấy tư liệu nào nối các dòng họ Kiều ngày nay với các nhân vật thế kỷ X. Chi họ nào có gia phả cũ ghi việc này thì nên giữ gìn và đối chiếu cẩn thận.
Lập gia phả họ Kiều
Họ Kiều ít người, nên một bản gia phả ghi cẩn thận có thể là tư liệu quý cho cả dòng họ. Hãy ghi rõ thủy tổ chi mình, làng gốc (kèm tên cũ và tên mới nếu địa phương đã sáp nhập), và chép đúng chữ Hán của họ như trong gia phả cũ hay bia ký. Nếu chi họ có truyền thống thờ một nhân vật thế kỷ X, nên ghi đó là truyền thống, tách khỏi phần phả hệ đã kiểm chứng. Hướng dẫn từng bước có trong bài Cách lập gia phả dòng họ.
Nguồn tham khảo
- 喬 — Wiktionary tiếng Việt
- 喬 — Wiktionary tiếng Anh
- Kiều (họ) — Wikipedia tiếng Việt
- Kiều Phú — Wikipedia tiếng Việt
- Kiều Oánh Mậu — Wikipedia tiếng Việt
- 大越史記全書/外紀卷之五 — Wikisource tiếng Trung (nguyên văn chữ Hán Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ quyển 5)
- 大越史記全書/本紀卷之一 — Wikisource tiếng Trung (nguyên văn chữ Hán Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 1)
- 矯 — Wiktionary tiếng Anh
- Kiều Công Tiễn — Wikipedia tiếng Việt
- Kiều Công Hãn — Wikipedia tiếng Việt
- Về nơi thờ sứ quân Kiều Công Thuận — Mộc Trà, Báo Phú Thọ, 2018 (bản lưu trên Internet Archive)
- Kiều Thuận — Wikipedia tiếng Việt
- Top 15 dòng họ lớn nhất Việt Nam có thể bạn chưa biết — VOH, 2023
- Dâng cá trắm khổng lồ tưởng nhớ Tướng công Kiều Công Hãn — Phan Lê Huy, Báo Tiền Phong, 2020
Thông tin tổng hợp từ các nguồn công khai, có ghi nguồn. Nếu bạn có tư liệu bổ sung hoặc cần đính chính, xin gửi về lienhe@hominh.com.
Cập nhật: