Mục lục · 7 mục
Họ Lê (chữ Hán 黎) là một trong những họ đông người nhất Việt Nam và là họ của hai triều đại: nhà Tiền Lê và nhà Hậu Lê. Bài viết này tóm tắt những gì sử sách và các nguồn đáng tin cậy ghi lại về nguồn gốc họ Lê, ý nghĩa chữ Hán, một số đền thờ, nhà thờ gắn với người họ Lê đã được Nhà nước xếp hạng di tích, cùng các nhân vật tiêu biểu.
Nguồn gốc họ Lê
Chữ Hán và ý nghĩa
Họ Lê viết bằng chữ Hán là 黎, tiếng phổ thông Trung Quốc đọc là Lí. Nghĩa gốc của chữ 黎 là "đen", như trong cụm từ 黎民 (lê dân), chỉ dân thường.[1] Khi phiên ra chữ Latinh, họ này có lúc được viết là Li, Lai hay Le, nên dễ bị lẫn với họ Lý (李).[1] Chữ Quốc ngữ chỉ ghi được âm, vì vậy khi đọc gia phả, bài vị hay câu đối cũ, nên xem kỹ mặt chữ Hán để khỏi nhầm.
Các thuyết ở Trung Quốc
Ở Trung Quốc cũng có họ Lê (黎), và tài liệu Trung Quốc nêu nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng họ này bắt nguồn từ bộ lạc Cửu Lê thời thượng cổ. Thuyết khác cho rằng họ Lê xuất phát từ nước Lê, một nước chư hầu thời nhà Thương bị Tây Bá hầu đánh diệt; sang thời Chu, con cháu nước này được phong đất và lấy tên nước làm họ. Ngoài ra, ở nhiều thời kỳ còn có những nhóm người đổi sang họ Lê.[1] Đây là các thuyết về họ Lê ở Trung Quốc; chúng không có nghĩa mọi dòng họ Lê ở Việt Nam đều từ đó mà ra.
Họ Lê trong lịch sử Việt Nam
Ở Việt Nam, người họ Lê có mặt từ sớm trong sử sách. Nữ tướng Lê Chân thời Hai Bà Trưng là một trong những nhân vật họ Lê được nhân dân thờ phụng.[1][2] Năm 980, Thái hậu Dương Vân Nga trao ngôi nhà Đinh cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn,[3] mở ra nhà Tiền Lê (980–1009). Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, lập nhà Hậu Lê (1428–1789). Một bài trên báo Dân Việt cho biết hai triều này có tổng cộng 31 vị vua mang họ Lê.[4]
Có một chuyện con cháu họ Lê nên biết khi tìm hiểu gốc tích: việc "ban quốc tính", tức vua cho người có công mang họ của nhà vua. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng tháng 2 năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), Lê Thái Tổ ban quốc tính cho các tướng sĩ có công, chia theo ba bậc công: bậc nhất 52 người, bậc nhì 72 người, bậc ba 94 người. Tháng 3 cùng năm, Nguyễn Trãi, tư đồ Trần Hãn và Phạm Văn Xảo cũng đều được ban quốc tính.[5] Một bài viết trên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam cho biết đến thời Lê Thánh Tông, những người đã được ban quốc tính được vua cho trở lại họ gốc.[6] Vì vậy, các dòng họ Lê không nhất thiết chung một ông tổ; nguồn gốc của từng chi phải dựa vào gia phả và tư liệu của chính chi đó.
Họ Lê ở Việt Nam ngày nay
Họ Lê là một trong những họ phổ biến nhất nước. Báo Thanh Tra (2023) viết rằng họ Lê chiếm khoảng 10% dân số cả nước.[2] Một bảng thống kê năm 2022, được Wikipedia tiếng Anh dẫn từ sách "100 họ phổ biến ở Việt Nam" (NXB Khoa học Xã hội), xếp họ Lê ở vị trí thứ ba với khoảng 8,9%, sau họ Nguyễn và họ Trần.[7] Một khảo sát mẫu của PGS.TS Lê Trung Hoa trên gần hai nghìn người, phần lớn là người Kinh, cho tỉ lệ 9,5%.[8] Con số giữa các nguồn không hoàn toàn giống nhau, nên chỉ nên hiểu đây là tỷ lệ gần đúng.
Thanh Hóa là vùng đất gắn bó đặc biệt với hai triều Lê: đền thờ vua Lê Hoàn và khu di tích Lam Kinh của nhà Hậu Lê đều ở tỉnh này.[9][10] Hà Tĩnh cũng có nhiều di tích gắn với danh nhân họ Lê, như khu lưu niệm Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác hay nhà thờ Lê Đắc Toàn (xem phần dưới).
Người họ Lê có tổ chức liên lạc chung trên cả nước. Theo Báo Thanh Tra, Ban liên lạc họ Lê được thành lập năm 1995; hơn một năm sau, vào dịp giỗ vua Lê Thái Tổ, trong buổi gặp mặt của 500 bà con họ Lê toàn quốc tại Thanh Hóa, Hội đồng họ Lê ở Việt Nam ra mắt. Hội đồng chú trọng công tác khuyến học, khuyến tài và tham gia tu bổ đền miếu, lăng mộ của các bậc tiền nhân họ Lê.[2]
Nhà thờ họ Lê và các di tích tiêu biểu
Dưới đây là một số đền thờ, nhà thờ và khu lưu niệm gắn với người họ Lê đã được xếp hạng di tích. Địa danh ghi theo nguồn tại thời điểm đăng bài; sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, tên xã, huyện ở một số nơi có thể đã thay đổi.
- Đền thờ Lê Hoàn ở làng Trung Lập, xã Xuân Lập, tỉnh Thanh Hóa: được công nhận di tích cấp quốc gia năm 1990 và di tích lịch sử quốc gia đặc biệt năm 2018.[9]
- Khu di tích Lam Kinh trên địa bàn xã Xuân Lam (huyện Thọ Xuân) và xã Kiên Thọ (huyện Ngọc Lặc), Thanh Hóa: di tích quốc gia đặc biệt, nơi có lăng các vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông cùng đền thờ Lê Lợi và Lê Lai.[10]
- Đền thờ nhà sử học Lê Văn Hưu ở xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa: được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1990; người địa phương quen gọi là "chùa ông Hưu".[11]
- Khu lưu niệm danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn ở thôn Đồng Phú, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên: di tích lịch sử văn hóa quốc gia theo quyết định năm 1986.[12]
- Mộ và Khu lưu niệm Lê Hữu Trác (Hải Thượng Lãn Ông) ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh: được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 1473/QĐ-TTg ngày 26/11/2024.[13]
- Nhà thờ và mộ Lê Hầu Tạo ở thôn Thọ Lộc, xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh: di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia từ năm 1995; mộ ông nằm trong khu nghĩa trang của dòng họ Lê.[14]
- Nhà thờ danh nhân Lê Đắc Toàn ở xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh: được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2010 và cấp quốc gia năm 2024.[15]
Ngoài ra, theo Báo Thanh Tra, Hội đồng họ Lê ở Việt Nam đã tham gia tu bổ đền thờ nữ tướng Lê Chân ở Đông Triều (Quảng Ninh).[2]
Nhân vật lịch sử tiêu biểu
- Lê Chân: nữ tướng thời Hai Bà Trưng.[1]
- Lê Hoàn (Lê Đại Hành): lên ngôi năm 980, lập nhà Tiền Lê;[3] cuộc kháng chiến chống quân Tống năm 981 khẳng định tài cầm quân của ông.[9]
- Lê Văn Hưu: nhà sử học thời Trần, người soạn bộ "Đại Việt sử ký";[1] năm 2022, Thanh Hóa tổ chức kỷ niệm 700 năm ngày mất của ông.[11]
- Lê Lợi (Lê Thái Tổ): người lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn, lên ngôi năm 1428, lập nhà Hậu Lê.[10][4]
- Lê Đắc Toàn (1622–1673): đỗ Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn (1652) năm 31 tuổi; tên ông được khắc trên bia tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám.[15]
- Lê Hữu Trác (Hải Thượng Lãn Ông): đại danh y, sinh năm 1724; năm 2024 kỷ niệm 300 năm ngày sinh của ông.[13]
- Lê Quý Đôn: nhà bác học, sinh năm 1726 tại làng Diên Hà; để lại khoảng 40 tác phẩm, trong đó có "Phủ biên tạp lục". Năm 2025, UNESCO thông qua nghị quyết vinh danh ông nhân dịp 300 năm ngày sinh.[12]
- Lê Hầu Tạo (1791–1821): người khởi xướng và lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa nông dân ở vùng Nghệ Tĩnh nửa đầu thế kỷ XIX.[14]
Câu hỏi thường gặp
Người họ Lê có phải đều là con cháu vua Lê?
Không nhất thiết. Họ Lê là một họ rất đông, gồm nhiều dòng độc lập với nhau ở nhiều địa phương. Thời Hậu Lê còn có việc ban họ vua cho người có công, nên một số chi họ Lê vốn có gốc từ họ khác.[5] Muốn biết chi mình từ đâu ra, cần dựa vào gia phả, bia mộ và văn bản của chính dòng họ.
Chữ Hán của họ Lê viết thế nào?
Họ Lê viết là 黎, nghĩa gốc là "đen" (như trong "lê dân", tức dân thường). Khi phiên ra chữ Latinh, chữ này có lúc được viết là "Li", nên dễ nhầm với họ Lý (李).[1]
Họ Lê có bao nhiêu vị vua?
Theo một bài trên báo Dân Việt, có 31 vị vua họ Lê thuộc hai triều Tiền Lê (980–1009) và Hậu Lê (1428–1789); trong đó Lê Hiển Tông ở ngôi lâu nhất, 46 năm (1740–1786).[4] Bài báo không liệt kê từng vị, nên con số có thể chênh lệch tùy cách tính của từng tài liệu.
Lập gia phả họ Lê
Vì họ Lê đông và có nhiều dòng khác nhau, khi lập gia phả nên ghi rõ tên chi, phái, quê gốc (tên làng, xã theo cả địa danh cũ và mới) và vị thủy tổ của chi mình. Nếu gia phả cũ có chép việc được ban quốc tính hay đổi họ, hãy giữ nguyên văn và chụp ảnh bản gốc trước khi phiên âm. Các bước cụ thể có trong bài Cách lập gia phả dòng họ.
Nguồn tham khảo
- Lê (họ) — Wikipedia tiếng Việt
- Dòng họ Lê ở Việt Nam làm tốt công tác khuyến học, khuyến tài — Báo Thanh Tra, 2023
- Dương Vân Nga - hai chiều dư luận — Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, 2018
- Dòng họ nào mang chân mệnh thiên tử, có 31 người làm vua trong lịch sử Việt Nam? — Báo Dân Việt, 2024
- 大越史記全書/本紀卷之十 — Wikisource tiếng Trung (nguyên văn chữ Hán Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 10)
- “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại tự nhiên vứt bỏ…” — Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, 2016
- Vietnamese name — Wikipedia tiếng Anh
- Tại sao ở Việt Nam, số người mang họ Nguyễn nhiều nhất? — Lê Trung Hoa, Khoa Văn học và Ngôn ngữ học, ĐH KHXH&NV TP.HCM, 2016
- Đền thờ Lê Hoàn hơn 1.000 năm lưu giữ hồn thiêng đất Việt — VietnamPlus (TTXVN), 2026
- Lam Kinh - “di tích xanh” của xứ Thanh — Báo Sài Gòn Giải Phóng, 2022
- Thanh Hóa chuẩn bị tổ chức Lễ kỷ niệm 700 năm ngày mất của Nhà sử học Lê Văn Hưu — Báo Văn Hóa, 2022
- UNESCO thông qua nghị quyết vinh danh nhà bác học Lê Quý Đôn — Mekong ASEAN, 2025
- Mộ và Khu lưu niệm Lê Hữu Trác được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt — Cổng thông tin điện tử tỉnh Hà Tĩnh, 2024
- Cần quan tâm trùng tu, quảng bá 2 di tích quốc gia trên một địa bàn xã ở Hà Tĩnh — Báo Hà Tĩnh, 2022
- Lan tỏa, phát huy giá trị di sản văn hóa của Hà Tĩnh — Báo Hà Tĩnh, 2025
Thông tin tổng hợp từ các nguồn công khai, có ghi nguồn. Nếu bạn có tư liệu bổ sung hoặc cần đính chính, xin gửi về lienhe@hominh.com.
Cập nhật: