Bỏ qua, tới nội dung chính

Nguồn gốc dòng họ

Họ Nguyễn

Nguồn gốc họ Nguyễn: lịch sử, chữ Hán, nhân vật tiêu biểu

Họ Nguyễn (阮) đông nhất Việt Nam vì nhiều lần đổi họ qua các triều đại. Nguyễn Bặc, chi Nguyễn Tiên Điền, Gia Miêu và các nhân vật tiêu biểu.

Cập nhật 8 phút đọc

Thông tin nhanh

Chữ Hán
阮
Nguồn tham khảo
10 tài liệu
Mục lục · 7 mục

Nguyễn là họ đông người nhất của người Việt. Theo một khảo sát mẫu của PGS.TS Lê Trung Hoa, người mang họ Nguyễn chiếm khoảng 38,4%, tức là cứ chừng mười người thì gần bốn người họ Nguyễn;[1] một số ước tính khác cho con số thấp hơn (xem bên dưới). Bài này tóm lược những gì sử sách và các nhà nghiên cứu nói về nguồn gốc họ Nguyễn, vì sao họ này đông đến vậy, cùng một vài chi họ và nhân vật tiêu biểu.

Nguồn gốc họ Nguyễn

Chữ Hán của họ Nguyễn

Họ Nguyễn viết bằng chữ Hán là 阮, chữ Nôm cũng viết như vậy. Tiếng Trung đọc chữ này là Ruǎn. Họ này cũng có ở Trung Quốc và Triều Tiên nhưng ít phổ biến hơn ở Việt Nam.[2]

Không phải mọi người họ Nguyễn đều chung một tổ

Họ Nguyễn đông không phải vì tất cả cùng sinh ra từ một ông tổ. PGS.TS Lê Trung Hoa giải thích rằng nhiều lần đổi họ trong lịch sử đã làm số người mang họ Nguyễn tăng lên:[1]

  • Năm 1232, đời Trần: Trần Thủ Độ bắt con cháu họ Lý đổi sang họ Nguyễn, lấy lý do tránh phạm húy, vì ông nội vua Trần Thái Tông tên là Trần Lý. Đoạn Đại Việt sử ký toàn thư được Wikipedia tiếng Anh dẫn lại cho biết việc đổi họ này còn nhằm dứt lòng dân mong nhớ nhà Lý.[3]
  • Sau năm 1407: nhà Hồ sụp đổ, con cháu họ Hồ sợ bị trả thù nên đổi sang họ Nguyễn.
  • Năm 1592: nhà Mạc mất ngôi, con cháu sợ nhà Lê trả thù nên đổi sang họ Nguyễn hoặc họ Lều.
  • Sau thời Trịnh – Nguyễn phân tranh: con cháu chúa Trịnh đổi sang họ Nguyễn vì sợ nhà Nguyễn trả thù.
  • Sau khi nhà Tây Sơn sụp đổ: con cháu tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu bị trả thù, một số người phải đổi sang họ Nguyễn.
  • Thời Nguyễn: người có công được vua ban họ vua (quốc tính). Ví dụ, Huỳnh Tường Đức có công với vua Gia Long được đổi thành Nguyễn Huỳnh Đức.
  • Ngoài ra, có người đổi sang họ Nguyễn để tránh bị trừng phạt.

Vì vậy, hai gia đình cùng họ Nguyễn chưa chắc đã có họ hàng với nhau.

Nguyễn Bặc, vị tổ được nhiều gia phả suy tôn

Theo các gia phả họ Nguyễn và tài liệu "Lược sử họ Nguyễn tại Việt Nam", Định Quốc công Nguyễn Bặc (924–979) được suy tôn là thủy tổ họ Nguyễn; sách "Nguyễn Phúc tộc thế phả" cũng coi ông là tổ của dòng Nguyễn Phúc. Ông người động Hoa Lư, nay thuộc huyện Gia Viễn, Ninh Bình, là bạn từ thuở nhỏ và là khai quốc công thần của vua Đinh Tiên Hoàng.[4] Đây là cách các gia phả chép lại. Một chi họ cụ thể có nối được về Nguyễn Bặc hay không thì cần tư liệu riêng của chi đó.

Họ Nguyễn ở Việt Nam ngày nay

Con số 38,4% của PGS.TS Lê Trung Hoa dựa trên thống kê 805 người ở Nam Bộ và 1.136 người ở Bắc Bộ, phần lớn là người Kinh. Trong cùng thống kê, họ Trần chiếm 11%, họ Lê 9,5%.[1] Báo Znews cũng nêu tỷ lệ khoảng 38,4%.[5] Trong khi đó, một bài của VOH dẫn cuốn "100 họ phổ biến ở Việt Nam" (NXB Khoa học Xã hội, 2022) ghi họ Nguyễn chiếm khoảng 31,5% dân số,[6] còn Wikipedia tiếng Anh tổng hợp các ước tính từ 30 đến 39%.[3] Các nguồn đưa ra con số khác nhau khá xa, nên chỉ nên hiểu đây là ước tính; điểm chung là các nguồn đều xếp Nguyễn là họ đông nhất.

Người Việt ở nước ngoài cũng mang theo họ Nguyễn. Theo Wikipedia tiếng Việt, Nguyễn đứng thứ 7 trong các họ phổ biến ở Úc và thứ 57 ở Hoa Kỳ trong cuộc điều tra dân số năm 2000.[2]

Nhiều dòng họ Nguyễn có họ kép hoặc chữ lót riêng để phân biệt với các dòng khác cùng họ, như Nguyễn Phúc, Nguyễn Đình, Nguyễn Công.

Nhà thờ họ Nguyễn và các chi tiêu biểu

Địa danh dưới đây ghi theo cách gọi trong nguồn; sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, tên xã, huyện ở nhiều nơi đã thay đổi.

Dòng họ Nguyễn Tiên Điền (Hà Tĩnh)

Ở Tiên Điền (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), khuôn viên gia tộc dòng họ Nguyễn rộng khoảng 28.526 m², thuộc Khu di tích quốc gia đặc biệt Đại thi hào Nguyễn Du. Theo Báo Hà Tĩnh, thủy tổ của dòng họ là Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm, vào đây lập nghiệp cuối thế kỷ XVI. Nhà thờ Đại thi hào Nguyễn Du được dòng họ dựng năm 1824 trên khu vườn nơi ông sống; năm 1940, Hội Khai trí Tiến Đức cùng dòng họ xây nhà thờ trong khuôn viên gia tộc. Trong khuôn viên còn có tấm bia Nguyễn Quỳnh do con trai là Nguyễn Nghiễm dựng năm 1762, cùng nhiều đại tự, hoành phi, câu đối cổ.[7]

Dòng họ Nguyễn ở Gia Miêu (Thanh Hóa)

Chúa Nguyễn Hoàng là người làng Gia Miêu, phủ Tống Sơn, nay thuộc Hà Trung, Thanh Hóa.[5] Dòng họ này gắn với thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong (1558–1777) và triều Nguyễn (1802–1945).[5] Hoàng tộc triều Nguyễn mang họ kép Nguyễn Phúc, không phải họ Nguyễn đơn.[3]

Nhân vật lịch sử tiêu biểu

  • Nguyễn Bặc (924–979): khai quốc công thần nhà Đinh, tước Định Quốc công; sau khi vua Đinh Tiên Hoàng mất, ông cùng Đinh Điền được giao phò vua nhỏ Đinh Toàn.[4]
  • Nguyễn Hiền: đỗ trạng nguyên năm 13 tuổi, dưới triều vua Trần Thái Tông.[5]
  • Nguyễn Trãi (1380–1442): hiệu Ức Trai, theo Lê Lợi trong khởi nghĩa Lam Sơn, tác giả Bình Ngô đại cáo. Năm 1980, nhân 600 năm ngày sinh của ông, UNESCO vinh danh ông là Danh nhân văn hóa thế giới.[8]
  • Nguyễn Hoàng (1525–1613): vị chúa Nguyễn đầu tiên, bắt đầu cai quản vùng phía nam từ năm 1558.[9]
  • Nguyễn Nghiễm (1708–1775): Xuân Quận công, từng giữ chức tể tướng, là thân phụ của Nguyễn Du.[10]
  • Nguyễn Du (1765–1820): tác giả Truyện Kiều gồm 3.254 câu lục bát. Năm 2013, UNESCO ra nghị quyết kỷ niệm 250 năm ngày sinh của ông vào năm 2015.[10]

Câu hỏi thường gặp

Vì sao họ Nguyễn đông nhất Việt Nam?

Theo PGS.TS Lê Trung Hoa, nguyên nhân chính là những đợt đổi họ qua nhiều triều đại: con cháu họ Lý (năm 1232), họ Hồ (sau năm 1407), họ Mạc (sau năm 1592), họ Trịnh lần lượt chuyển sang họ Nguyễn. Thêm vào đó, triều Nguyễn ban quốc tính cho một số người có công.[1]

Người họ Nguyễn có cùng một ông tổ không?

Không. Họ Nguyễn có nhiều nguồn gốc khác nhau, nên người họ Nguyễn ở hai làng có thể thuộc hai dòng hoàn toàn khác nhau.[1] Nhiều gia phả suy tôn Nguyễn Bặc là thủy tổ,[4] nhưng muốn biết chi mình từ đâu ra thì vẫn phải dựa vào gia phả, bia mộ và lời kể của các cụ trong họ.

Người họ Nguyễn có phải đều là con cháu vua Nguyễn?

Không. Hoàng tộc triều Nguyễn mang họ kép Nguyễn Phúc, và thời xưa việc tự ý mang họ vua khi không cùng dòng là điều cấm kỵ.[3] Chỉ một số người có công được vua ban quốc tính.[1]

Chữ Hán của họ Nguyễn là chữ gì?

Họ Nguyễn viết là 阮, tiếng Trung đọc là Ruǎn. Khi tra gia phả cũ viết bằng chữ Hán, bạn sẽ gặp chữ này ở tên của từng người trong họ.[2]

Lập gia phả họ Nguyễn

Vì họ Nguyễn rất đông và có nhiều nguồn gốc, khi lập gia phả nên ghi rõ tên chi, phái, làng gốc và tên vị thủy tổ đời thứ nhất của chi mình, thay vì chỉ ghi chung là "họ Nguyễn". Nếu dòng họ có họ kép hoặc chữ lót riêng (như Nguyễn Đình, Nguyễn Công), hãy ghi lại để con cháu nơi khác dễ nhận họ hàng. Các bước thu thập tư liệu có trong bài Cách lập gia phả dòng họ.

Nguồn tham khảo

Thông tin tổng hợp từ các nguồn công khai, có ghi nguồn. Nếu bạn có tư liệu bổ sung hoặc cần đính chính, xin gửi về lienhe@hominh.com.

Cập nhật:

Các họ liên quan

Xem tất cả các họ