Mục lục · 7 mục
Họ Mạc là một họ ít người nhưng có dấu ấn rõ trong lịch sử Việt Nam: có Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đời Trần, có một triều đại (nhà Mạc, thế kỷ XVI), và có dòng Mạc Cửu khai phá đất Hà Tiên. Sau khi nhà Mạc mất kinh thành năm 1592, nhiều con cháu đã đổi sang họ khác, nên ngày nay có không ít dòng họ mang họ khác nhưng nhận gốc họ Mạc. Bài viết này tóm tắt những gì các nguồn đáng tin nói về chữ Hán, nguồn gốc và các nhân vật tiêu biểu của họ Mạc.
Nguồn gốc họ Mạc
Chữ Hán
Họ Mạc viết bằng chữ Hán là 莫.[1] Riêng dòng họ Mạc ở Hà Tiên thường được ghi bằng chữ 鄚 (thêm bộ ấp bên phải): tên Mạc Cửu được ghi là 鄚玖, con ông là Mạc Thiên Tứ được ghi là 鄚天賜.[2][3]
Hai dòng họ Mạc lớn
Họ Mạc ở Việt Nam thường được nhắc tới với hai dòng có nguồn gốc khác nhau.[1]
Dòng họ Mạc xứ Đông (Hải Dương – Hải Phòng). Người họ Mạc sớm được sử chép là Mạc Hiển Tích: năm 1086, triều Lý thi chọn người có văn học vào Viện Hàn lâm, Mạc Hiển Tích trúng tuyển, được bổ Hàn lâm học sĩ.[4] Đến đời Trần có Mạc Đĩnh Chi, người Chí Linh, đỗ Trạng nguyên năm 1304.[5]
Nhà Mạc do Mạc Đăng Dung lập năm 1527. Toàn thư chép Mạc Đăng Dung người làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, thuở nhỏ làm nghề đánh cá, lớn lên có sức khỏe, thi đỗ lực sĩ rồi làm quan.[6] Về tổ tiên của ông, các nguồn chưa thống nhất: sử cũ chép ông là cháu bảy đời của Mạc Đĩnh Chi; Viện Sử học, dựa theo sách Công dư tiệp ký, cho rằng ông là hậu duệ đời thứ mười một của Mạc Hiển Tích; còn sử gia Trần Quốc Vượng nghi ngờ mối liên hệ với Mạc Đĩnh Chi và cho rằng gia đình ông có thể gốc người Đản ở ven biển Phúc Kiến. Vấn đề này đến nay vẫn còn tranh luận.[7]
Dòng họ Mạc ở Hà Tiên. Mạc Cửu (1655–1735) là người làng Lê Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Sau khi nhà Minh sụp đổ, ông rời quê sang vùng đất Chân Lạp, rồi lập nghiệp ở Hà Tiên và quy phục chúa Nguyễn.[2] Dòng này không cùng gốc với dòng họ Mạc xứ Đông.[1]
Nhà Mạc và chuyện con cháu đổi họ
Nhà Mạc giữ kinh đô Thăng Long từ năm 1527 đến năm 1592; sau đó con cháu còn giữ vùng Cao Bằng đến năm 1677. Trong thời gian ở Thăng Long, triều Mạc vẫn duy trì thi cử: các nguồn ghi là 21 hoặc 22 khoa thi Hội, lấy đỗ khoảng 485 tiến sĩ.[8][9]
Sau khi nhà Mạc mất Thăng Long, con cháu họ Mạc bị phong trào "phù Lê diệt Mạc" truy bức.[1] Một bài trên báo Thanh Niên (2011) thuật lại lời các cụ truyền rằng nhiều người phải thay tên đổi họ để tránh sự truy đuổi của quân Trịnh; theo tác giả bài báo, cả nước có khoảng 50 dòng họ nhận gốc từ họ Mạc, nay mang các họ như Phan, Thái, Hoàng, Phạm, Bùi, Vũ, Ma, Nguyễn.[10] Wikipedia tiếng Việt còn liệt kê nhiều họ khác như Bế, Đặng, Lê, Ngô, Trần…, dựa trên các bài nghiên cứu và bài báo về từng dòng họ.[1] Nếu gia đình bạn có truyền thuyết "gốc họ Mạc", hãy tìm bằng chứng trong gia phả cũ, câu đối, bia ký của chính chi họ mình.
Họ Mạc ở Việt Nam ngày nay
Chúng tôi chưa tìm được thống kê đáng tin về số người mang họ Mạc ở Việt Nam. Họ Mạc không có trong danh sách 15 họ đông nhất Việt Nam theo cuốn "100 họ phổ biến ở Việt Nam" (NXB Khoa học Xã hội, 2022) mà VOH dẫn lại.[11]
Nhà thờ họ Mạc và các di tích tiêu biểu
Địa danh dưới đây ghi theo nguồn; sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, nhiều nơi đã đổi tên hoặc sáp nhập.
- Cụm di tích liên quan đến nhà Mạc ở Dương Kinh (huyện Kiến Thụy, Hải Phòng): được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2025 theo Quyết định số 152/QĐ-TTg, gồm đền – chùa Hòa Liễu, từ đường họ Mạc (đã là di tích cấp quốc gia từ năm 2002), chùa Trà Phương, chùa Nhân Trai và Khu tưởng niệm các vua nhà Mạc.[9] Cổ Trai, quê Mạc Đăng Dung, là trung tâm Dương Kinh xưa. Khu tưởng niệm rộng hơn 10 ha, khánh thành cuối tháng 9 năm 2010, có tượng Mạc Đăng Dung và các vua kế vị.[10]
- Quê Mạc Đĩnh Chi: theo Lịch triều hiến chương loại chí, ông người Lũng Động, huyện Chí Linh, Hải Dương (nay là thôn Long Động, xã Hợp Tiến, Hải Phòng; có tài liệu chép quê ông là Bàng Hà); ở quê ông có đền thờ ông.[12]
- Lăng Mạc Cửu và đền thờ họ Mạc ở Hà Tiên (phường Bình San, TP Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang): lăng và đền do Mạc Thiên Tích, con Mạc Cửu, cho xây trong các năm 1735–1739; quanh lăng còn 59 ngôi mộ lớn nhỏ của người thân và những người có liên quan với họ Mạc. Khu lăng Mạc Cửu thuộc quần thể di tích núi Bình San, được xếp hạng danh thắng quốc gia từ năm 1989.[13] Đền thờ họ Mạc, trước gọi là Mạc Công miếu, từng thờ Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích (tức Mạc Thiên Tứ) và Mạc Tử Sanh.[2][3]
Nhân vật lịch sử tiêu biểu
- Mạc Hiển Tích (thế kỷ XI): trúng tuyển kỳ thi chọn người văn học năm 1086, làm Hàn lâm học sĩ; năm 1094 được cử đi sứ Chiêm Thành.[4]
- Mạc Đĩnh Chi (?–1346): đỗ Trạng nguyên năm 1304 đời Trần Anh Tông; năm 1308 đi sứ nhà Nguyên.[5] Ông nổi tiếng với bài phú "Ngọc tỉnh liên"; nhiều giai thoại về chuyến đi sứ của ông mang màu sắc truyền thuyết.[12]
- Mạc Đăng Dung (1483–1541): người làng Cổ Trai, lập ra nhà Mạc năm 1527, xây dựng Dương Kinh ở quê nhà.[7]
- Mạc Cửu (1655–1735): người gốc Lôi Châu (Quảng Đông), người khai phá vùng Hà Tiên;[2] năm 1708 quy phục chúa Nguyễn Phúc Chu và được giao cai quản Hà Tiên (các nguồn ghi chức danh là Tổng binh hoặc Tổng trấn).[2][13]
- Mạc Thiên Tứ (1718?–1780): con Mạc Cửu, cai quản Hà Tiên từ năm 1735; năm 1736 lập tao đàn Chiêu Anh Các, với tập thơ "Hà Tiên thập vịnh". Năm sinh của ông có nhiều thuyết khác nhau.[3]
Câu hỏi thường gặp
Vì sao nhiều dòng họ khác lại nhận gốc họ Mạc?
Vì sau khi nhà Mạc mất Thăng Long năm 1592, con cháu bị truy đuổi nên nhiều người đổi sang họ khác để tránh bị trả thù.[10][1] Các dòng này thường giữ dấu tích qua gia phả, câu đối hoặc truyền thuyết trong họ.
Họ Mạc ở Hà Tiên có cùng gốc với nhà Mạc không?
Không. Dòng Mạc Cửu ở Hà Tiên gốc ở Quảng Đông; theo Báo Văn hóa, Mạc Cửu đến Hà Tiên năm 1680,[13] khác với dòng họ Mạc xứ Đông của Mạc Đĩnh Chi và Mạc Đăng Dung.[1] Dòng Hà Tiên còn thường viết họ bằng chữ 鄚 thay cho 莫.[2]
Họ Mạc có phải gốc Hoa không?
Tùy dòng. Dòng Mạc Cửu ở Hà Tiên có gốc từ Lôi Châu, Quảng Đông.[2] Với dòng họ Mạc xứ Đông, sử cũ đã chép những người họ Mạc làm quan ở nước ta từ thời Lý – Trần, như Mạc Hiển Tích và Mạc Đĩnh Chi (người Chí Linh);[4][5] riêng nguồn gốc xa hơn của gia đình Mạc Đăng Dung thì giới sử học còn tranh luận.[7]
Lập gia phả họ Mạc
Khi lập gia phả họ Mạc, hãy ghi rõ chi mình thuộc dòng nào (xứ Đông hay Hà Tiên), thủy tổ và làng gốc (kèm tên cũ và tên mới nếu địa phương đã sáp nhập). Với những dòng hiện mang họ khác nhưng nhận gốc họ Mạc, nên ghi cả họ hiện nay lẫn họ gốc, cùng thời điểm và lý do đổi họ theo gia phả cũ hoặc câu đối, bia ký còn lưu. Nếu gặp từ như chi, phái, thủy tổ, xem Thuật ngữ gia phả; các bước cụ thể có trong bài Cách lập gia phả dòng họ.
Nguồn tham khảo
- Mạc (họ) — Wikipedia tiếng Việt
- Mạc Cửu — Wikipedia tiếng Việt
- Mạc Thiên Tứ — Wikipedia tiếng Việt
- 大越史記全書/本紀卷之三 — Wikisource tiếng Trung (nguyên văn chữ Hán Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 3)
- 大越史記全書/本紀卷之六 — Wikisource tiếng Trung (nguyên văn chữ Hán Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 6)
- 大越史記全書/本紀卷之十五 — Wikisource tiếng Trung (nguyên văn chữ Hán Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ quyển 15)
- Mạc Đăng Dung — Wikipedia tiếng Việt
- Nhà Mạc — Wikipedia tiếng Việt
- Hải Phòng: Cụm di tích nhà Mạc đón nhận Bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt — Tạp chí Luật sư Việt Nam, 2025
- Trên đất thiêng triều Mạc — Báo Thanh Niên, 2011
- Top 15 dòng họ lớn nhất Việt Nam có thể bạn chưa biết — VOH, 2023
- Mạc Đĩnh Chi — Wikipedia tiếng Việt
- Kiên Giang: Một số ngôi mộ cổ ở lăng Mạc Cửu bị mất — Báo Văn hóa, 2023
Thông tin tổng hợp từ các nguồn công khai, có ghi nguồn. Nếu bạn có tư liệu bổ sung hoặc cần đính chính, xin gửi về lienhe@hominh.com.
Cập nhật: