Mục lục · 8 mục
Tôn Thất là họ của một nhánh hoàng tộc nhà Nguyễn, chữ Hán viết là 尊室; con gái trong các gia đình này mang họ Tôn Nữ (尊女).[1] Khác với phần lớn các họ khác, Tôn Thất không phải một họ có nguồn gốc riêng mà là danh xưng do triều Nguyễn đặt ra để phân biệt các nhánh con cháu trong dòng họ Nguyễn Phúc. Bài này tóm tắt những gì các nguồn tư liệu ghi lại về cách họ Tôn Thất ra đời, quan hệ với Nguyễn Phúc, cách đặt tên và các nhân vật tiêu biểu.
Nguồn gốc họ Tôn Thất
Từ "Tông Thất" thành "Tôn Thất"
Ban đầu danh xưng này là "Tông Thất" (宗室), nghĩa là dòng họ nhà vua. Vì tên húy của vua Thiệu Trị là Nguyễn Phúc Miên Tông, nhiều chữ đọc là "tông" phải đổi đọc thành "tôn", nên "tông thất" trở thành "tôn thất".[2][1] Một bài trên báo Thanh Niên dẫn lời một người trong hoàng tộc giải thích rằng chữ Tôn (尊) trong Tôn Thất mang nghĩa "đáng kính".[2] Theo Wikipedia tiếng Việt, chữ Tôn trong Tôn Nữ vốn là 孫, về sau được viết là 尊 cho đồng bộ với Tôn Thất.[1]
Ai mang họ Tôn Thất
Theo Wikipedia tiếng Việt, vua Minh Mạng đã đặt danh xưng này cho con cháu các chúa Nguyễn, từ chúa Nguyễn Hoàng đến chúa Nguyễn Phúc Thuần; mỗi chúa cùng anh em của chúa lập thành một "hệ".[1] Cũng theo trang này, con trai thuộc dòng nối ngôi vua mang họ Nguyễn Phúc, con trai ngoài dòng ấy mang họ Tôn Thất, còn Tôn Nữ được đặt cho con gái trong dòng tộc, bất kể thuộc nhánh nào.[1]
Bài trên báo Thanh Niên cũng dẫn lời giải thích rằng con cháu các chúa Nguyễn (gọi là Tiền hệ) và con cháu các anh em vua Minh Mạng (gọi là Phiên hệ) đặt Tông Thất cho con trai, Tông Nữ cho con gái; về sau vì kiêng húy mà thành Tôn Thất, Tôn Nữ.[2] Một nghiên cứu của Đại học Huế cũng giải thích: Tiền hệ là con cháu chín đời chúa từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần, còn chánh hệ là con cháu vua Gia Long trở về sau.[3]
Các nguồn diễn đạt quy định này hơi khác nhau ở từng chi tiết. Nếu cần biết chính xác một chi thuộc hệ, phòng nào, nguồn đầy đủ nhất là bộ "Nguyễn Phúc tộc thế phả" do Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc biên soạn (Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 1995).[3]
Tôn Thất, Tôn Nữ và Nguyễn Phúc
Người họ Tôn Thất và người họ Nguyễn Phúc cùng thuộc một dòng họ lớn là Nguyễn Phúc tộc, chỉ khác nhánh.[1][4] Ví dụ, Tôn Thất Thuyết là hậu duệ đời thứ năm của Hiền vương Nguyễn Phúc Tần, một vị chúa Nguyễn.[5]
Trong các gia đình họ Tôn Thất, con trai thường mang họ Tôn Thất, con gái mang họ Tôn Nữ.[1] Vì "Tôn Thất" là một họ kép, khi làm giấy tờ hay ghi gia phả cần ghi đủ cả hai chữ là họ. Wikipedia tiếng Anh lưu ý rằng họ này hay bị nhầm thành họ Tôn, còn chữ "Thất" bị hiểu nhầm là tên đệm.[6]
Đế hệ thi và cách đặt tên trong hoàng tộc
Vua Minh Mạng đã đặt ra cách đặt chữ lót cho từng thế hệ con cháu trong hoàng tộc. Đế hệ thi dùng cho con cháu vua Minh Mạng, Phiên hệ thi dùng cho con cháu các anh em ruột của vua. Các bài này làm theo thể thơ, để đời sau chỉ nghe tên là biết ngay thế thứ, vai vế.[3] Bài Đế hệ thi gồm 20 chữ:[3]
Miên Hồng (Hường) Ưng Bửu Vĩnh
Bảo Quý Định Long Trường
Hiền Năng Kham Kế Thuật
Thế Thoại Quốc Gia Xương
Theo nghiên cứu nói trên, sau năm 1945 triều Nguyễn không còn, nhưng các thế hệ con cháu hoàng tộc vẫn theo Đế hệ thi và Phiên hệ thi để đặt chữ lót cho con cháu.[3] Trong khi đó, như đã nói ở trên, Tiền hệ (con cháu các chúa) có cách đặt tên khác.[3]
Nơi thờ tự tiêu biểu ở Huế
Thái Miếu và Triệu Miếu
Thái Miếu ở góc đông nam Hoàng thành Huế là nơi thờ chín chúa Nguyễn, do vua Gia Long cho xây năm 1804. Công trình bị phá hủy năm 1947; năm 1972, Đức Từ Cung và Nguyễn Phúc tộc cho dựng lại tòa chính trên nền cũ với quy mô nhỏ hơn. Do công trình xuống cấp, bài vị các chúa được chuyển sang Triệu Miếu ở phía bắc để thờ. Năm 2024, Thái Miếu bắt đầu được tu bổ theo một dự án dự kiến kéo dài gần bốn năm.[7] Triệu Miếu, cũng xây năm 1804, thờ Nguyễn Kim, thân sinh của chúa Nguyễn Hoàng.[8]
Phủ đệ của các hoàng tử, công chúa
Ở Huế, phủ đệ là nơi ở của các hoàng tử, hoàng thân và công chúa. Nhà chính trong phủ thường đặt án thờ ở gian giữa để thờ cha mẹ đã khuất; con cháu các "phủ, phòng" dù làm ăn xa vẫn cố về sum họp ở phủ thờ vào ngày giỗ.[3]
Nhân vật lịch sử tiêu biểu
- Tôn Thất Thuyết (1839–1913): sinh ở làng Phú Mộng gần Huế; phụ chính đại thần, Thượng thư bộ Binh. Đêm 4 rạng 5/7/1885, ông chỉ huy tấn công quân Pháp ở Huế, rồi phò vua Hàm Nghi rời kinh thành và phát chiếu Cần Vương. Ông mất năm 1913 tại Long Châu, Trung Quốc.[5]
- Tôn Thất Đàm (1864–1888): con trưởng của Tôn Thất Thuyết, một trong những thủ lĩnh phong trào Cần Vương, bảo vệ vua Hàm Nghi những năm 1886–1888. Khi hay tin vua bị bắt, ông tự vẫn năm 1888.[9]
- Tôn Thất Đào (1910–1979): họa sĩ sinh ở Huế, tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1937, nổi tiếng với tranh lụa; từng làm Giám đốc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế.[10]
- Tôn Thất Tùng (1912–1982): bác sĩ phẫu thuật, quê gốc làng Dương Xuân Thượng (Huế); người xây dựng phương pháp cắt gan có kế hoạch, còn gọi là "mổ gan khô", từ những năm 1960, và từ năm 1954 làm Giám đốc Bệnh viện Việt Đức.[11]
Câu hỏi thường gặp
Họ Tôn Thất và họ Nguyễn Phúc có phải là một?
Cùng một dòng họ nhưng khác nhánh. Cả hai đều thuộc Nguyễn Phúc tộc; theo các nguồn, họ Tôn Thất dành cho con trai các nhánh không thuộc dòng nối ngôi, trong đó có con cháu các chúa Nguyễn.[1][2]
Vì sao con gái họ Tôn Thất lại mang họ Tôn Nữ?
Theo Wikipedia tiếng Việt, Tôn Nữ được đặt cho con gái trong dòng tộc, bất kể thuộc nhánh nào, nên trong các gia đình họ Tôn Thất, con trai mang họ Tôn Thất còn con gái mang họ Tôn Nữ.[1]
Họ Tôn Thất có phải là họ Tôn không?
Không. Tôn Thất là một họ kép, chữ Hán 尊室, không có tên đệm "Thất". Việc nhầm thành họ Tôn hay gặp khi làm giấy tờ, nên cần ghi đủ cả hai chữ.[6]
Lập gia phả họ Tôn Thất
Gia phả họ Tôn Thất nên ghi rõ mình thuộc hệ nào, phòng nào (tức là hậu duệ của vị chúa hay vị hoàng thân nào), và ghi chữ lót của từng đời nếu dòng mình đặt tên theo Đế hệ thi hoặc Phiên hệ thi, vì đó là manh mối để xác định thế thứ. Nên đối chiếu với "Nguyễn Phúc tộc thế phả" và với những người giữ gia phả của phòng mình. Các bước cụ thể có trong bài Cách lập gia phả dòng họ, và các từ như hệ, phòng, chi có trong bài Thuật ngữ gia phả.
Nguồn tham khảo
- Tôn Thất — Wikipedia tiếng Việt
- Khác nhau một chữ 'g' mà rắc rối — Thanh Niên (An Chi), 2018
- Gia phong xứ Huế từ góc nhìn di sản phủ đệ (Trần Văn Dũng) — Tạp chí Khoa học Đại học Huế, tập 127, số 6C, 2018
- Nguyễn Phúc tộc — Wikipedia tiếng Việt
- Tôn Thất Thuyết — Wikipedia tiếng Việt
- Vietnamese name — Wikipedia tiếng Anh
- Di tích Thái Miếu, Đại Nội Huế sẽ được trùng tu như thế nào? — Báo Văn Hóa, 2024
- Triệu miếu — Wikipedia tiếng Việt
- Tôn Thất Đàm — Wikipedia tiếng Việt
- Tôn Thất Đào — Wikipedia tiếng Việt
- Tôn Thất Tùng — Wikipedia tiếng Việt
Thông tin tổng hợp từ các nguồn công khai, có ghi nguồn. Nếu bạn có tư liệu bổ sung hoặc cần đính chính, xin gửi về lienhe@hominh.com.
Cập nhật: